Seatimes – (ĐNA). Ngày 15/3/1965 đánh dấu sự khởi đầu của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam khi Mỹ chính thức chuyển từ chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” sang “Chiến tranh cục bộ”, trực tiếp đưa quân viễn chinh vào tham chiến quy mô lớn tại miền Nam Việt Nam. Quyết định này không chỉ cho thấy sự thất bại của quân ngụy Sài Gòn trong việc tự duy trì cuộc chiến, mà còn mở ra giai đoạn leo thang quân sự khốc liệt bậc nhất thế kỷ XX. Tuy nhiên, dù sở hữu ưu thế vượt trội về hỏa lực và công nghệ, Mỹ vẫn không thể khuất phục ý chí chiến đấu của quân và dân Việt Nam. Cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm thất bại mọi toan tính của siêu cường quân sự hàng đầu thế giới.

Sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”
Sau Hiệp định Genève năm 1954, Mỹ từng bước thay chân thực dân Pháp, dựng nên chính quyền ngụy Sài Gòn nhằm thực hiện chiến lược chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam. Trong bối cảnh đó, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” được triển khai với công thức: quân ngụy Sài Gòn làm lực lượng chủ lực, dưới sự trang bị vũ khí, tài chính và điều hành trực tiếp của cố vấn Mỹ.
Đến cuối năm 1964, Mỹ đã đổ vào miền Nam hơn 2 tỷ USD viện trợ quân sự, đồng thời tăng số lượng cố vấn quân sự lên khoảng 23.000 người để trực tiếp chỉ huy và điều hành bộ máy chiến tranh. Một trong những trụ cột của chiến lược này là chương trình “ấp chiến lược”, được coi là “quốc sách” hàng đầu. Hơn 8.000 ấp chiến lược đã được dựng lên nhằm dồn dân, tách lực lượng cách mạng khỏi quần chúng, biến nông thôn miền Nam thành mạng lưới kiểm soát dày đặc của quân ngụy Sài Gòn.
Tuy nhiên, những tính toán của Lầu Năm Góc nhanh chóng vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ từ phong trào đấu tranh của quân và dân miền Nam. Chiến thắng Ấp Bắc (tháng 1/1963) đã trở thành dấu mốc quan trọng, chứng minh quân giải phóng hoàn toàn có thể đánh bại quân ngụy Sài Gòn ngay cả khi chúng được trang bị những chiến thuật hiện đại như “trực thăng vận” và “thiết giáp vận”. Từ đây, phong trào đấu tranh vũ trang phát triển mạnh, làm lung lay niềm tin của Mỹ vào khả năng chiến đấu của quân đội Sài Gòn.
Tiếp đó, trong các chiến dịch Bình Giã (1964–1965), Ba Gia (1965) và Đồng Xoài (1965), lực lượng vũ trang cách mạng đã liên tiếp tiêu diệt nhiều đơn vị chủ lực tinh nhuệ của quân ngụy Sài Gòn. Những thất bại này không chỉ gây tổn thất nặng nề về sinh lực mà còn làm bộc lộ sự yếu kém của quân đội tay sai, đồng thời đẩy chính quyền ngụy Sài Gòn vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng cả về quân sự lẫn chính trị.
Trước thực tế đó, giới hoạch định chiến lược tại Washington buộc phải thừa nhận rằng chiến lược “dùng người Việt đánh người Việt” đã rơi vào bế tắc. Mọi nỗ lực cứu vãn bằng viện trợ tài chính hay tăng cường cố vấn đều không thể đảo ngược tình thế. Đứng trước nguy cơ bộ máy tay sai sụp đổ, Tổng thống Lyndon B. Johnson và chính quyền Mỹ buộc phải đưa ra quyết định trực tiếp đưa quân viễn chinh vào tham chiến tại miền Nam Việt Nam.
Việc quân ngụy Sài Gòn không còn đủ khả năng giữ vai trò chủ lực trên chiến trường đã đẩy Mỹ đến bước đi mới: “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh. Quyết định này đánh dấu sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đồng thời mở đầu cho giai đoạn Mỹ tiến hành “Chiến tranh cục bộ”, trực tiếp sử dụng lực lượng quân sự quy mô lớn nhằm áp đặt ý chí của một siêu cường lên cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Mỹ trực tiếp đưa quân và leo thang “Chiến tranh cục bộ”
Ngày 8/3/1965, những đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ đầu tiên đổ bộ lên bãi biển Đà Nẵng, đánh dấu bước khởi đầu của việc Mỹ trực tiếp đưa quân chiến đấu vào miền Nam Việt Nam. Chỉ ít ngày sau, đến 15/3/1965, quyết định triển khai lực lượng viễn chinh Mỹ được thực hiện trên quy mô lớn, trở thành bước ngoặt không thể đảo ngược của cuộc chiến. Từ vai trò “hỗ trợ” thông qua cố vấn và viện trợ, Mỹ chuyển sang giữ vai trò chủ đạo, trực tiếp điều hành các hoạt động quân sự trên chiến trường miền Nam.
Số lượng quân Mỹ tăng nhanh qua từng năm. Nếu cuối năm 1965 có khoảng 184.000 quân, thì đến năm 1967 con số này đã lên tới hơn 485.000 quân, và đạt đỉnh hơn 536.000 quân vào đầu năm 1968. Bên cạnh đó, Mỹ còn huy động hàng chục nghìn quân từ các nước đồng minh như Hàn Quốc, Australia, Thái Lan và Philippines tham chiến tại miền Nam Việt Nam.
Cùng với việc tăng quân ồ ạt, Mỹ triển khai những lực lượng tinh nhuệ nhất, bao gồm các sư đoàn bộ binh, không vận và thủy quân lục chiến, tham gia các chiến dịch bình định và các cuộc hành quân quy mô lớn. Hàng loạt phương tiện chiến tranh hiện đại cũng được đưa vào chiến trường, từ pháo binh hạng nặng, xe bọc thép, trực thăng vũ trang cho đến các loại máy bay tiêm kích phản lực. Hệ thống căn cứ quân sự được xây dựng kiên cố và dày đặc khắp miền Nam Việt Nam, tạo thành các trung tâm xuất phát cho chiến lược “tìm và diệt” nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng. Washington tin rằng với ưu thế vượt trội về hỏa lực, hậu cần và công nghệ quân sự, họ có thể nhanh chóng nghiền nát phong trào kháng chiến trong thời gian ngắn.
Tuy nhiên, việc tăng quân ồ ạt cũng kéo theo gánh nặng tài chính ngày càng lớn đối với nước Mỹ, đồng thời gây ra những tranh cãi và xáo trộn trong đời sống chính trị xã hội tại Mỹ. Song song với việc đưa quân vào miền Nam, Mỹ còn mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Từ năm 1965, Mỹ tiến hành chiến dịch ném bom quy mô lớn mang tên “Sấm rền” (Rolling Thunder), sử dụng không quân và hải quân đánh phá nhiều mục tiêu kinh tế, dân sự và hệ thống giao thông nhằm cắt đứt nguồn chi viện cho chiến trường miền Nam.
Washington tin rằng với tiềm lực kinh tế khổng lồ cùng sức mạnh của các loại máy bay chiến lược, đặc biệt là B-52, họ có thể buộc miền Bắc Việt Nam phải khuất phục. Tuy nhiên, thực tế chiến trường đã diễn ra khác xa những tính toán ban đầu của Lầu Năm Góc.
Việc Mỹ trực tiếp đưa quân vào tham chiến không làm suy giảm ý chí đấu tranh của nhân dân Việt Nam, mà trái lại càng khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết và quyết tâm đánh thắng quân xâm lược. Trong bối cảnh đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam bước sang một giai đoạn mới, ngày càng quyết liệt và toàn diện hơn.
Trên khắp chiến trường miền Nam, mỗi tấc đất đều trở thành những “túi lửa” kháng chiến, sẵn sàng đón đánh quân xâm lược. Trong khi đó, miền Bắc hiên ngang thực hiện nhiệm vụ vừa sản xuất, vừa chiến đấu, bảo vệ vững chắc hậu phương xã hội chủ nghĩa và không ngừng chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa hai miền đã tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, kết hợp sức mạnh của tiền tuyến và hậu phương, của đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao. Đồng thời, Việt Nam còn nhận được sự giúp đỡ to lớn và chí tình của Liên Xô, Trung Quốc, Cuba cùng các nước xã hội chủ nghĩa, cũng như sự ủng hộ mạnh mẽ của phong trào hòa bình và những người yêu chuộng công lý trên toàn thế giới.
Chính sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại đó đã tạo nên nguồn lực tổng hợp to lớn, giúp nhân dân Việt Nam đủ sức đương đầu và từng bước đánh bại mọi bước leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ.

Sự đối đầu giữa hỏa lực hiện đại và chiến tranh nhân dân
Bước vào giai đoạn “Chiến tranh cục bộ”, quân đội Mỹ triển khai chiến lược “Tìm và diệt” (Search and Destroy) với mục tiêu tiêu diệt các đơn vị bộ đội chủ lực của ta, đồng thời tiến hành bình định nông thôn nhằm phá vỡ cơ sở cách mạng. Với ưu thế vượt trội về pháo binh, xe bọc thép và sự yểm trợ mạnh mẽ của không quân, mỗi cuộc hành quân của quân Mỹ thường đi kèm với những trận càn quét quy mô lớn, gây tàn phá nặng nề đối với nhiều làng mạc ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế chiến trường, họ nhanh chóng nhận ra rằng mình đang rơi vào một thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp.
Những ưu thế về công nghệ và hỏa lực của quân đội Mỹ dần bị hạn chế trước sự mưu trí, dũng cảm và cách đánh sáng tạo của quân và dân miền Nam Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta linh hoạt vận dụng phương châm “bám thắt lưng địch mà đánh”, áp sát đội hình đối phương để hạn chế tối đa khả năng sử dụng pháo binh và không quân của Mỹ. Những trận đánh bất ngờ từ hệ thống địa đạo, hầm bí mật trong lòng đất, kết hợp với các căn cứ kháng chiến ở rừng núi và vùng căn cứ địa cách mạng, đã khiến quân Mỹ luôn ở trong trạng thái căng thẳng và bị động.
Cuộc đấu tranh chống Mỹ không chỉ diễn ra trên mặt trận quân sự mà còn gắn liền với đấu tranh chính trị và binh vận, tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Trong nhiều khu vực, quân Mỹ dù có hỏa lực mạnh vẫn rơi vào thế bị chia cắt và bao vây giữa một vùng dân cư rộng lớn luôn ủng hộ cách mạng.
Chiến thắng Vạn Tường (Quảng Ngãi) tháng 8/1965 là một trong những trận đánh lớn đầu tiên giữa quân giải phóng và quân viễn chinh Mỹ, chứng minh rằng lực lượng vũ trang cách mạng hoàn toàn có khả năng đối đầu và đánh bại quân Mỹ ngay khi chúng vừa đặt chân vào chiến trường miền Nam. Tiếp đó, các trận đánh tại Pleime và Ia Đrăng cuối năm 1965 đã làm thất bại nhiều cuộc hành quân quy mô lớn của đối phương, làm lung lay mục tiêu “tiêu diệt chủ lực” mà Lầu Năm Góc đề ra.
Trong suốt giai đoạn này, sức mạnh của ba thứ quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã hình thành một mạng lưới chiến đấu rộng khắp. Quân Mỹ nhiều lần rơi vào những trận phục kích hoặc các thế trận đã được chuẩn bị từ trước, nơi mà ưu thế về không quân và pháo binh không thể phát huy hiệu quả như mong muốn.
Thế trận “lòng dân” vững chắc chính là yếu tố quyết định giúp cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam có thể duy trì lâu dài trước một siêu cường quân sự. Dù có tiềm lực lớn đến đâu, quân Mỹ cũng không thể kiểm soát từng tấc đất khi mỗi người dân đều trở thành một phần của cuộc kháng chiến. Sự tiêu hao sinh lực và áp lực chiến trường kéo dài đã khiến tinh thần và sức chiến đấu của quân Mỹ ngày càng suy giảm.
Cuộc đối đầu giữa hỏa lực quân sự hiện đại và chiến tranh nhân dân trên chiến trường Việt Nam đã cho thấy rằng sức mạnh của vũ khí không phải là yếu tố quyết định duy nhất. Chính ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết và sự tham gia của toàn dân tộc mới là nhân tố tạo nên sức mạnh bền bỉ giúp nhân dân Việt Nam từng bước làm thất bại chiến lược chiến tranh của Mỹ.

Con đường sa lầy chiến lược và bài học lịch sử
Càng dấn sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa tại Việt Nam, Mỹ càng lún sâu vào một cuộc xung đột hao người tốn của mà không tìm thấy lối thoát danh dự. Chi phí chiến tranh tăng vọt lên hơn 25 tỷ USD mỗi năm, gây áp lực nặng nề lên nền kinh tế Mỹ, làm gia tăng lạm phát và gây ra những chia rẽ sâu sắc trong nội bộ chính trường cũng như xã hội. Từ giữa thập niên 1960, các phong trào phản chiến bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều thành phố lớn của Mỹ và lan rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới, yêu cầu Washington chấm dứt chiến tranh và rút quân khỏi Việt Nam.
Sự bế tắc của các chiến lược quân sự tại miền Nam Việt Nam đã đẩy giới lãnh đạo Mỹ vào tình trạng khủng hoảng niềm tin, đồng thời làm suy giảm nghiêm trọng uy tín của Washington trên trường quốc tế. Sai lầm căn bản của Mỹ nằm ở việc đánh giá sai đối thủ và bản chất của cuộc chiến. Khi quyết định đưa quân trực tiếp tham chiến, Washington tin rằng với ưu thế áp đảo về hỏa lực, công nghệ và tiềm lực kinh tế, họ có thể nhanh chóng khuất phục một quốc gia nhỏ bé ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, họ đã không “biết người, biết ta”, không hiểu được sức mạnh của chiến tranh nhân dân, truyền thống yêu nước và ý chí độc lập của dân tộc Việt Nam.
Đỉnh điểm của sự sa lầy chiến lược chính là Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Những đòn tấn công đồng loạt vào các đô thị và cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn đã gây chấn động dư luận quốc tế, làm lung lay niềm tin của chính giới và người dân Mỹ vào khả năng chiến thắng trong cuộc chiến. Sự kiện này đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược và từng bước xuống thang chiến tranh.
Sau Mậu Thân 1968, Tổng thống Lyndon B. Johnson buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam, đồng thời tuyên bố không tái tranh cử nhiệm kỳ tiếp theo. Washington cũng phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Paris năm 1973, mở đầu cho tiến trình rút quân khỏi Việt Nam. Đây là minh chứng rõ ràng cho thất bại của một siêu cường quân sự trước sức mạnh chính nghĩa và ý chí kiên cường của một dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do.
Nhìn lại bước ngoặt 15/3/1965, càng thấy rõ tầm nhìn chiến lược và tài thao lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc nhận định đúng tình hình, kịp thời đề ra những chủ trương, đối sách phù hợp để lãnh đạo toàn dân tộc bước vào cuộc đối đầu trực tiếp với đế quốc Mỹ. Tư tưởng chiến lược “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” đã thể hiện rõ quyết tâm giành độc lập, thống nhất đất nước bằng sức mạnh của toàn dân tộc.
Từ thực tiễn đó, nhiều bài học lịch sử sâu sắc đã được khẳng định, trước hết là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là việc phát huy nội lực, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại. Sự ủng hộ to lớn của bạn bè quốc tế, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa cùng phong trào hòa bình và tiến bộ trên thế giới, đã góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp nhân dân Việt Nam từng bước làm thất bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi cuối cùng.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Cuộc chiến đã khẳng định rằng không một sức mạnh quân sự nào có thể khuất phục được một dân tộc đoàn kết và quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền của mình.
Những bài học từ cuộc chiến tranh Việt Nam cũng trở thành lời cảnh báo đối với các cường quốc khi can thiệp quân sự vào những quốc gia khác mà không hiểu rõ thực tiễn lịch sử, văn hóa và ý chí của người dân bản địa. Sau Việt Nam, nước Mỹ tiếp tục vấp phải những bài học tương tự trong nhiều cuộc xung đột kéo dài ở Trung Đông. Việc sa lầy trong các cuộc chiến tranh tại khu vực này cho thấy rằng sức mạnh quân sự vượt trội không đồng nghĩa với chiến thắng chính trị hay chiến lược, nếu thiếu sự hiểu biết sâu sắc về đối phương và bối cảnh địa chính trị.
Bài học từ năm 1965 vì thế vẫn còn nguyên giá trị đối với Việt Nam hôm nay. Đó là bài học về tinh thần cảnh giác cách mạng, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và ý chí bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc. Phát huy truyền thống ấy, nhân dân Việt Nam tiếp tục xây dựng và phát triển đất nước, xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ cha anh trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Giá trị của ý chí độc lập trong thời đại mới
Bước ngoặt lịch sử năm 1965 và toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của dân tộc Việt Nam đã để lại những giá trị sâu sắc về ý chí độc lập, nghệ thuật quân sự và sức mạnh của lòng dân. Thắng lợi trước quân đội Mỹ – Ngụy không chỉ là chiến thắng về quân sự, mà còn là chiến thắng của một tư duy chiến lược đúng đắn: biết dựa vào sức mạnh của nhân dân, kết hợp truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông với những kinh nghiệm và tri thức quân sự của thời đại.
Lịch sử đã chứng minh rằng một dân tộc dù nhỏ bé nhưng khi đã tự mình đứng lên giành quyền sống và quyền độc lập thì sẽ không bao giờ chấp nhận khuất phục. Cuộc kháng chiến của Việt Nam là minh chứng hùng hồn cho chân lý ấy: một dân tộc đã tự đứng thẳng thì sẽ không bao giờ biết quỳ trước bất kỳ sức mạnh bạo lực nào. Chính tinh thần tự lực, tự cường và sự sáng tạo trong cách đánh đã giúp Việt Nam vượt qua một đối thủ có tiềm lực kinh tế và quân sự hàng đầu thế giới.
Ngày nay, trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, những bài học từ lịch sử vẫn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc. Đó là bài học về giữ vững độc lập, tự chủ, bảo vệ chủ quyền quốc gia và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Việt Nam luôn trân trọng sự giúp đỡ và hợp tác của bạn bè quốc tế, đồng thời kiên định nguyên tắc đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Quan hệ quốc tế của Việt Nam được xây dựng trên tinh thần hợp tác, tôn trọng lẫn nhau và cùng phát triển, không phụ thuộc vào bất kỳ thế lực nào.
Nhìn lại quá khứ không phải để nuôi dưỡng hận thù, mà để hiểu rõ giá trị của hòa bình và độc lập, từ đó biết trân trọng hiện tại và hướng tới tương lai. Sau hơn nửa thế kỷ, Việt Nam đã gác lại quá khứ chiến tranh, chủ động mở rộng quan hệ đối ngoại, trở thành một quốc gia năng động, tích cực hội nhập và là đối tác tin cậy của nhiều quốc gia trên thế giới.
Những trang sử hào hùng của dân tộc, trong đó có bước ngoặt năm 1965, sẽ mãi nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau về sức mạnh của ý chí độc lập và khát vọng tự do. Đó chính là nền tảng tinh thần để Việt Nam tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng đất nước hòa bình, phát triển và thịnh vượng, xứng đáng với sự hy sinh to lớn của các thế hệ cha anh trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc.
Thế Nguyễn – Minh Văn
Tài liệu tham khảo
Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954–1975).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, NXB Quân đội nhân dân.
Bộ Quốc phòng, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân.
Nhiều tác giả, Chiến tranh Việt Nam – Những góc nhìn lịch sử, NXB Tổng hợp.




