• Du lịch
    • Ẩm thực
    • Cẩm nang di lịch
    • Điểm đến
  • Giải trí
    • Điện ảnh
    • Hậu trường
    • Làm đẹp
    • Mỹ thuật
    • Thời trang
  • Giáo dục
    • Ngành học
    • Tin giáo dục
    • Tuyển sinh
  • Khoa học
    • Công nghệ
    • Phát minh
    • Tin tức
    • Ứng dụng
  • Kinh doanh
    • Đầu tư – Tài chính
    • Doanh nghiệp
    • Doanh nhân
    • Tin Kinh tế
    • Xuất nhập khẩu
  • Pháp luật
    • Kiến thức
    • Chuyên đề, Phóng sự, Phân tích xã hội-Quốc tế
    • Tin nhanh
    • Văn bản
  • Y Tế
    • Các bệnh thường gặp
    • Dinh dưỡng
    • Khỏe đẹp
    • Thuốc quanh ta
    • Tin sức khỏe
  • Thể thao
    • Bóng đá
    • Các môn thể thao khác
    • Tin thể thao
    • Xe cộ
    • Xu hướng
  • Tin tức – Sự kiện
    • ASEAN-ASIA
    • Quốc tế
    • Trong nước
  • TW Hội
    • Hoạt động Hội
    • Tài liệu bổ trợ
    • Thông tin hữu ích
  • Văn hóa
    • Tin văn hóa
    • Di sản. Lễ hội
    • Bảo tồn, Bảo tàng, Nghệ thuật
    • Nhân vật Sự kiện
    • Sống đẹp
Seatimes - Thời báo Đông Nam Á
  • Du lịch
    • Ẩm thực
    • Cẩm nang di lịch
    • Điểm đến
  • Giải trí
    • Điện ảnh
    • Hậu trường
    • Làm đẹp
    • Mỹ thuật
    • Thời trang
  • Giáo dục
    • Ngành học
    • Tin giáo dục
    • Tuyển sinh
  • Khoa học
    • Công nghệ
    • Phát minh
    • Tin tức
    • Ứng dụng
  • Kinh doanh
    • Đầu tư – Tài chính
    • Doanh nghiệp
    • Doanh nhân
    • Tin Kinh tế
    • Xuất nhập khẩu
  • Pháp luật
    • Kiến thức
    • Chuyên đề, Phóng sự, Phân tích xã hội-Quốc tế
    • Tin nhanh
    • Văn bản
  • Y Tế
    • Các bệnh thường gặp
    • Dinh dưỡng
    • Khỏe đẹp
    • Thuốc quanh ta
    • Tin sức khỏe
  • Thể thao
    • Bóng đá
    • Các môn thể thao khác
    • Tin thể thao
    • Xe cộ
    • Xu hướng
  • Tin tức – Sự kiện
    • ASEAN-ASIA
    • Quốc tế
    • Trong nước
  • TW Hội
    • Hoạt động Hội
    • Tài liệu bổ trợ
    • Thông tin hữu ích
  • Văn hóa
    • Tin văn hóa
    • Di sản. Lễ hội
    • Bảo tồn, Bảo tàng, Nghệ thuật
    • Nhân vật Sự kiện
    • Sống đẹp
No Result
View All Result
  • Du lịch
    • Ẩm thực
    • Cẩm nang di lịch
    • Điểm đến
  • Giải trí
    • Điện ảnh
    • Hậu trường
    • Làm đẹp
    • Mỹ thuật
    • Thời trang
  • Giáo dục
    • Ngành học
    • Tin giáo dục
    • Tuyển sinh
  • Khoa học
    • Công nghệ
    • Phát minh
    • Tin tức
    • Ứng dụng
  • Kinh doanh
    • Đầu tư – Tài chính
    • Doanh nghiệp
    • Doanh nhân
    • Tin Kinh tế
    • Xuất nhập khẩu
  • Pháp luật
    • Kiến thức
    • Chuyên đề, Phóng sự, Phân tích xã hội-Quốc tế
    • Tin nhanh
    • Văn bản
  • Y Tế
    • Các bệnh thường gặp
    • Dinh dưỡng
    • Khỏe đẹp
    • Thuốc quanh ta
    • Tin sức khỏe
  • Thể thao
    • Bóng đá
    • Các môn thể thao khác
    • Tin thể thao
    • Xe cộ
    • Xu hướng
  • Tin tức – Sự kiện
    • ASEAN-ASIA
    • Quốc tế
    • Trong nước
  • TW Hội
    • Hoạt động Hội
    • Tài liệu bổ trợ
    • Thông tin hữu ích
  • Văn hóa
    • Tin văn hóa
    • Di sản. Lễ hội
    • Bảo tồn, Bảo tàng, Nghệ thuật
    • Nhân vật Sự kiện
    • Sống đẹp
No Result
View All Result
Seatimes - Thời báo Đông Nam Á
No Result
View All Result
Home Văn hóa Nhân vật Sự kiện

Chủ tịch Tôn Đức Thắng: Biểu tượng kiên trung của đạo đức cách mạng Việt Nam và tinh thần quốc tế vô sản

30/03/2026
in Nhân vật Sự kiện
0
SHARES
0
VIEWS
Share on FacebookShare on Twitter

Seatimes – (ĐNA). Cuộc đời của nhà cách mạng Tôn Đức Thắng là một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Từ một người thợ xuất thân trong giai cấp công nhân, ông trưởng thành qua đấu tranh gian khổ để trở thành biểu tượng tiêu biểu của phẩm chất đạo đức cộng sản. Không phô trương, không ồn ào, hơn 70 năm hoạt động cách mạng bền bỉ của ông đã để lại một di sản tinh thần sâu sắc. Từ xưởng Ba Son đến cương vị Chủ tịch nước, Tôn Đức Thắng luôn giữ trọn bản chất người công nhân, gắn bó với những chặng đường đầy hy sinh nhưng vẻ vang của dân tộc và phong trào cộng sản quốc tế.

Nữ dũng sĩ diệt Mỹ Hồ Thị Thu đang kể về chiến công của mình với Bác Hồ và Bác Tôn.

Từ bến cảng Ba Son đến ngọn cờ đỏ trên Biển Đen
Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Tôn Đức Thắng đã sớm tiếp cận thực tiễn đời sống của giai cấp công nhân tại xưởng Ba Son (Sài Gòn), một trung tâm công nghiệp lớn dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Chính tại đây, từ những trải nghiệm trực tiếp về sự bóc lột khắc nghiệt, ông từng bước hình thành ý thức về đấu tranh tập thể. Năm 1912, ông tham gia tổ chức và lãnh đạo cuộc bãi công của học sinh trường Bá Nghệ và công nhân Ba Son, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức giai cấp: từ tự phát sang tự giác. Không xuất phát từ lý luận sách vở, mà từ thực tiễn lao động bị áp bức, ông nhận ra tính tất yếu của con đường đấu tranh có tổ chức. Nhận thức ấy trở thành nền tảng để ông sáng lập Công hội Đỏ vào năm 1920, tổ chức công đoàn đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam.

Dấu mốc mang tầm vóc quốc tế trong cuộc đời Tôn Đức Thắng diễn ra ngày 20/4/1919, tại Biển Đen. Tại đây, ông là người kéo lá cờ đỏ trên cột cờ trên chiến hạm France, phản đối cuộc can thiệp vũ trang của đế quốc Pháp nhằm chống lại Nhà nước Xô viết non trẻ. Hành động này không chỉ thể hiện sự ủng hộ đối với Cách mạng Tháng Mười Nga, mà còn phản ánh rõ nét tinh thần quốc tế vô sản, khi một người lao động thuộc địa đã ý thức sâu sắc về sự gắn bó giữa cách mạng dân tộc và phong trào cách mạng thế giới. Sự kiện Biển Đen vì thế trở thành một dấu ấn tiêu biểu, đưa tên tuổi ông vào dòng chảy chung của phong trào đấu tranh chống chiến tranh đế quốc của giai cấp công nhân quốc tế.

Từ những trải nghiệm đó, quá trình chuyển hóa tư tưởng của Tôn Đức Thắng diễn ra rõ rệt: từ một người lao động yêu nước trở thành một chiến sĩ cách mạng vô sản có lập trường chính trị vững vàng. Những năm tháng làm việc trên các con tàu viễn dương và tại các công xưởng ở Pháp đã giúp ông trực tiếp tham gia vào phong trào công nhân quốc tế. Việc gia nhập Tổng Liên đoàn Lao động Pháp và Đảng Xã hội Pháp không chỉ mở rộng tầm nhìn, mà còn củng cố nhận thức về mối quan hệ gắn bó giữa vận mệnh dân tộc và vận mệnh của giai cấp vô sản toàn thế giới.

Trên phương diện lịch sử, Tôn Đức Thắng là một trong những cầu nối sớm giữa cách mạng Việt Nam và phong trào công nhân quốc tế. Sau khi trở về nước năm 1920, ông tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn. Sự ra đời và phát triển của Công hội Đỏ dưới sự lãnh đạo của ông đã tạo tiền đề quan trọng cho sự hình thành của Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930. Hình ảnh người thợ máy Ba Son kiên cường vì thế không chỉ là biểu tượng của giai cấp công nhân Việt Nam, mà còn là minh chứng cho sức mạnh của tinh thần đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chống áp bức và bất công.

Căn nhà 487 đường Paul Blanch (nay là đường Hai Bà Trưng) nơi ở và hoạt động của Bác Tôn trong giai đoạn thành lập, lãnh đạo Công hội đỏ những năm 1920. Ảnh tư liệu.

Bản lĩnh thép tôi luyện qua mười lăm năm ngục tù Côn Đảo
Những năm tháng bị giam cầm tại Côn Đảo là giai đoạn thử thách khắc nghiệt nhất, đồng thời cũng là nơi thể hiện rõ nét nhất bản lĩnh kiên trung của người cộng sản Tôn Đức Thắng. Tháng 7/1929, ông bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn và kết án 20 năm tù khổ sai. Từ năm 1930 đến năm 1945, trong chốn “địa ngục trần gian”, ông phải chịu đựng những hình phạt tàn bạo như bị nhốt vào hầm xay lúa, ăn cơm trộn cát đá, sống trong điều kiện lao dịch hà khắc. Tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh ấy, ý chí của người chiến sĩ cách mạng không những không bị khuất phục mà càng được tôi luyện, củng cố niềm tin sắt đá vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong lao tù, cùng với các đồng chí, ông đã biến nhà tù thành “trường học cách mạng”. Năm 1930, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tại nhà tù Côn Đảo được thành lập, và ông là một trong những thành viên nòng cốt. Từ đây, các hoạt động đấu tranh không chỉ nhằm cải thiện điều kiện sinh hoạt mà còn hướng tới mục tiêu lâu dài: giữ vững tổ chức, bồi dưỡng lý luận và củng cố niềm tin cho tù nhân chính trị. Sự kiên định của ông không thể hiện bằng lời nói mà bằng hành động cụ thể: luôn nhận phần việc nặng nhọc nhất, nêu cao tinh thần đồng chí, đồng đội, chia sẻ gian khổ và giữ vững kỷ luật cách mạng trong mọi hoàn cảnh.

Điều đáng chú ý là trong suốt gần 15 năm bị giam cầm, lập trường cách mạng của Tôn Đức Thắng chưa từng dao động. Đây là biểu hiện điển hình của một nhân cách đã được tôi luyện đến độ vững chắc, nơi thử thách khắc nghiệt nhất chỉ làm nổi bật hơn phẩm chất cao quý của người cộng sản. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ông nằm trong số những chiến sĩ cách mạng đầu tiên được đón từ Côn Đảo trở về, trực tiếp tham gia lãnh đạo phong trào kháng chiến ở Nam Bộ. Bản lĩnh được hun đúc trong lao tù đã giúp ông nhanh chóng đảm nhận những trọng trách lớn lao mà Đảng và nhân dân giao phó.

Côn Đảo, vì thế, không chỉ là nơi giam giữ mà còn là nơi kiểm chứng chiều sâu nhân cách của ông. Bằng sự nhân hậu và tấm gương sống mẫu mực, ông đã cảm hóa cả những tù thường phạm, biến họ thành những người có thiện cảm và ủng hộ cách mạng. Phẩm chất của người công nhân vẫn được gìn giữ trọn vẹn qua những việc làm giản dị như sửa chữa vật dụng, giúp đỡ bạn tù, giữ gìn phẩm giá con người trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Di sản để lại từ những năm tháng Côn Đảo không chỉ là câu chuyện về sự chịu đựng, mà còn là bài học sâu sắc về khí tiết người cộng sản: kiên trung, bất khuất, và tuyệt đối tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, ngay cả trong những thời khắc tăm tối nhất.

Đình Bình Đông(Thành phố Hồ Chí Minh) nơi Bác Tôn tổ chức Chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội ở Sài Gòn ngày 5/4/1927.

Khát vọng chung và tình đồng chí vĩ đại với Bác Hồ
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng là hai nhân vật tiêu biểu của cách mạng Việt Nam, gặp nhau ở điểm chung cốt lõi: lòng yêu nước sâu sắc gắn liền với lý tưởng vô sản. Mối quan hệ giữa hai ông không chỉ là sự đồng hành về chính trị, mà còn là sự tương đồng về đạo đức, lối sống và mục tiêu phục vụ nhân dân. Năm 1946, tại Hà Nội, sau khi Tôn Đức Thắng từ Côn Đảo trở về, cuộc gặp gỡ đầu tiên đã nhanh chóng đặt nền tảng cho một mối quan hệ đồng chí, anh em gắn bó. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đánh giá ông là “một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng”, người suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, hết lòng phục vụ cách mạng và nhân dân.

Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho Tôn Đức Thắng sự tin cậy đặc biệt. Năm 1948, khi phát động phong trào thi đua ái quốc, Người đã giao ông giữ cương vị Trưởng Ban vận động thi đua ái quốc Trung ương. Sau đó, Tôn Đức Thắng tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng như Trưởng Ban Thường trực Quốc hội và Phó Chủ tịch nước. Sự tín nhiệm này không chỉ xuất phát từ năng lực tổ chức, mà còn từ phẩm chất tận tụy, trung thực và khiêm tốn nhất quán của ông. Trong suốt các chặng đường kháng chiến, hai vị lãnh đạo đã cùng nhau dẫn dắt cách mạng Việt Nam vượt qua những thử thách lớn, từ thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1954 đến những năm tháng cam go của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Dấu mốc ông được trao tặng Huân chương Sao Vàng năm 1958, phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước mang ý nghĩa ghi nhận đặc biệt đối với những cống hiến của ông. Tại buổi lễ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Nhà nước trực tiếp trao tặng và gọi ông là “người đồng chí thân thiết”, người con ưu tú của Nam Bộ. Sự gắn bó giữa hai ông còn thể hiện rõ ở phong cách sống và làm việc: giản dị, gần gũi quần chúng, đặt lợi ích của quốc gia và nhân dân lên trên hết. Họ trở thành biểu tượng tiêu biểu cho sự đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng mang ý nghĩa vượt lên trên khuôn khổ cá nhân, trở thành biểu tượng của tình đồng chí bền chặt trong cách mạng Việt Nam. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, Tôn Đức Thắng được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiếp tục kế tục sự nghiệp mà Người để lại. Trên cương vị này, ông kiên trì thực hiện Di chúc của Bác, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân năm 1975. Sự gắn kết giữa hai nhân cách lớn đã tạo nên nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, cổ vũ hàng triệu người Việt Nam trong hành trình đấu tranh vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước.

Bác Hồ và Bác Tôn với đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc.

Vẻ đẹp giản dị của vị Chủ tịch nước giữa lòng Nhân dân
Sau khi đảm nhiệm cương vị Chủ tịch nước, Tôn Đức Thắng vẫn giữ nguyên phong cách sống của một người công nhân thợ máy. Ông không lựa chọn cuộc sống trong những dinh thự xa hoa, mà tiếp tục sinh hoạt trong điều kiện giản dị, tự mình lo liệu những nhu cầu cá nhân hằng ngày. Trong suốt hơn một thập niên đứng đầu Nhà nước, ông tuyệt đối không sử dụng quyền lực để mang lại đặc quyền cho bản thân hay gia đình. Điều đó thể hiện một nguyên tắc sống nhất quán: quyền lực chỉ là công cụ để phục vụ nhân dân, không phải phương tiện để hưởng thụ. Hình ảnh vị Chủ tịch nước tự tay sửa chiếc xe đạp đã trở thành một biểu tượng gần gũi, khắc sâu trong lòng nhân dân.

Sự nhất quán trong đạo đức của ông được thể hiện tập trung qua việc thực hành lối sống “cần, kiệm, liêm, chính”. Dù ở bất kỳ cương vị nào, từ người thợ máy nơi xưởng Ba Son, người công nhân hoạt động tại Pháp, cho đến người đứng đầu Nhà nước, ông vẫn giữ một phong cách duy nhất: chân thành, khiêm nhường và tận tụy. Năm 1976, khi trở thành Chủ tịch nước đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất, đất nước bước vào giai đoạn đầy khó khăn sau chiến tranh. Trong bối cảnh đó, chính sự gương mẫu và liêm chính của ông đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ, trở thành điểm tựa tinh thần quan trọng, gắn kết ý Đảng với lòng dân.

Cuộc đời của Tôn Đức Thắng là minh chứng tiêu biểu cho sự thống nhất giữa lời nói và hành động. Ông không chỉ đề cao đạo đức cách mạng bằng lời lẽ, mà còn kiên trì thực hành những giá trị ấy trong suốt cuộc đời mình. Từ một người thợ tham gia Công hội Đỏ đến vị lãnh đạo cao nhất của đất nước, ông vẫn luôn giữ trọn bản chất của “người công nhân”, giản dị mà kiên định. Chính sự bền bỉ trong việc gìn giữ phẩm chất đã tạo nên giá trị thuyết phục sâu sắc về hình mẫu người cộng sản chân chính, nơi nhân cách không bị thay đổi bởi hoàn cảnh, dù là trong lao tù hay khi nắm giữ quyền lực tối cao.

Sự nhất quán ấy đã làm nên sức sống lâu bền cho tấm gương của ông. Việc được trao tặng Giải thưởng Hòa bình quốc tế Lê-nin năm 1955 là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp của ông cho hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Tuy nhiên, những vinh danh cao quý đó không làm thay đổi lối sống giản dị vốn có. Cho đến hôm nay, cuộc đời và sự nghiệp của Tôn Đức Thắng vẫn là một chuẩn mực để cán bộ, đảng viên noi theo, một bài học sâu sắc về mối quan hệ giữa quyền lực và đạo đức, giữa trách nhiệm lãnh đạo và sự tận tụy phục vụ nhân dân.

Bác Tôn Đức Thắng vui mừng trở về thăm lại miền Nam sau ngày đất nước thống nhất.

Ngày 30/3/1980, Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ trần ở tuổi 92, để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong lòng đồng bào, chiến sĩ cả nước. Gần một thế kỷ sống và hoạt động cách mạng, ông đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Sự ra đi của ông là một tổn thất lớn lao, nhưng di sản về đạo đức và nhân cách cách mạng mà ông để lại vẫn bền bỉ sống cùng lịch sử dân tộc. Tên tuổi ông được đặt cho nhiều đường phố, trường học, công trình văn hóa trên khắp cả nước như một biểu hiện sinh động của lòng tri ân và sự ghi nhớ của các thế hệ.

Hình ảnh người chiến sĩ thầm lặng, người thủy thủ kiên cường trong sự kiện Biển Đen năm 1919 vẫn luôn là biểu tượng về lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng cách mạng. Cuộc đời ông là minh chứng thuyết phục cho một chân lý giản dị mà sâu sắc: một dân tộc có những con người kiên trung như vậy sẽ không bao giờ bị khuất phục. Những dấu mốc cuộc đời ông, từ lao tù khắc nghiệt đến những cương vị lãnh đạo cao nhất không chỉ là dữ kiện lịch sử, mà còn là những điểm tựa tinh thần, góp phần làm nên bản anh hùng ca về phẩm chất của người cộng sản Việt Nam.

Trước anh linh của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, sự tưởng nhớ không chỉ dừng lại ở lòng thành kính, mà còn thể hiện ở trách nhiệm tiếp nối con đường mà ông đã lựa chọn. Việc học tập và làm theo tấm gương của ông hôm nay gắn liền với yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực và củng cố niềm tin của nhân dân. Mỗi hành động liêm chính, mỗi biểu hiện tận tụy trong công việc của cán bộ, đảng viên đều là sự tiếp nối những giá trị mà ông đã dày công vun đắp.

Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đạo đức vô sản. Ông là niềm tự hào của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, là tấm gương để các thế hệ hôm nay và mai sau soi chiếu, học tập. Hình ảnh của ông sẽ mãi gắn liền với lịch sử hào hùng của dân tộc, như một ngọn lửa bền bỉ soi sáng con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp bước những giá trị ấy chính là cách thiết thực nhất để tri ân và xứng đáng với những hy sinh, cống hiến mà ông và các thế hệ đi trước đã dành trọn cho đất nước.

Thế Nguyễn – Minh Văn

Tài liệu tham khảo:
 * Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.
* Tiểu sử Chủ tịch Tôn Đức Thắng – NXB Chính trị quốc gia.
* Hồ Chí Minh toàn tập.
* Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 – 1975).
* Tài liệu lưu trữ tại Bảo tàng Tôn Đức Thắng (TP. Hồ Chí Minh).
* Giáo trình Lịch sử cách mạng Việt Nam – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Previous Post

Đẩy nhanh tiến độ khai thác sân bay Long Thành, hoàn thiện kết nối giao thông liên vùng

Hoàng Hạnh

Tin Nóng

Chủ tịch Tôn Đức Thắng: Biểu tượng kiên trung của đạo đức cách mạng Việt Nam và tinh thần quốc tế vô sản

Chủ tịch Tôn Đức Thắng: Biểu tượng kiên trung của đạo đức cách mạng Việt Nam và tinh thần quốc tế vô sản

30/03/2026
Đẩy nhanh tiến độ khai thác sân bay Long Thành, hoàn thiện kết nối giao thông liên vùng

Đẩy nhanh tiến độ khai thác sân bay Long Thành, hoàn thiện kết nối giao thông liên vùng

30/03/2026
An Giang: Đặt phát triển kinh tế trong tổng thể bảo đảm an ninh – quốc phòng

An Giang: Đặt phát triển kinh tế trong tổng thể bảo đảm an ninh – quốc phòng

27/03/2026
Chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính tạo xung lực mới cho quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga

Chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính tạo xung lực mới cho quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga

27/03/2026
Huế – Đà Nẵng 1975: Sự sụp đổ dây chuyền của hệ thống phòng thủ miền Trung

Huế – Đà Nẵng 1975: Sự sụp đổ dây chuyền của hệ thống phòng thủ miền Trung

24/03/2026

SEATIMES
TRANG TIN ĐIỆN TỬ TỔNG HỢP – TẠP CHÍ ĐÔNG NAM Á

Giấy phép số: 256/GP-TTĐT Ngày 09/10/2018 – Cục PTTH & TTĐT – Bộ TTTT
Tòa soạn: 135 Nguyễn Văn Trỗi, quận Hà Đông, TP. Hà Nội.
Hotline: 0908811688 – 0908929999 – 0969887172
Email: seatimes.dna@gmail.com

Cơ quan chủ quản
TW Hội Nghiên cứu Khoa học về Đông Nam Á – Việt Nam

• Tapchidongnama.vn

• Trung tâm Thông tin và Truyền thông Văn hóa Thể thao
(Hợp tác truyền thông và quảng cáo của Tạp chí Đông Nam Á)
Email: ttvhtt.tapchidongnama@gmail.com
Liên hệ : 0908811688 – 0975161368

No Result
View All Result
  • Du lịch
    • Ẩm thực
    • Cẩm nang di lịch
    • Điểm đến
  • Giải trí
    • Điện ảnh
    • Hậu trường
    • Làm đẹp
    • Mỹ thuật
    • Thời trang
  • Giáo dục
    • Ngành học
    • Tin giáo dục
    • Tuyển sinh
  • Khoa học
    • Công nghệ
    • Phát minh
    • Tin tức
    • Ứng dụng
  • Kinh doanh
    • Đầu tư – Tài chính
    • Doanh nghiệp
    • Doanh nhân
    • Tin Kinh tế
    • Xuất nhập khẩu
  • Pháp luật
    • Kiến thức
    • Chuyên đề, Phóng sự, Phân tích xã hội-Quốc tế
    • Tin nhanh
    • Văn bản
  • Y Tế
    • Các bệnh thường gặp
    • Dinh dưỡng
    • Khỏe đẹp
    • Thuốc quanh ta
    • Tin sức khỏe
  • Thể thao
    • Bóng đá
    • Các môn thể thao khác
    • Tin thể thao
    • Xe cộ
    • Xu hướng
  • Tin tức – Sự kiện
    • ASEAN-ASIA
    • Quốc tế
    • Trong nước
  • TW Hội
    • Hoạt động Hội
    • Tài liệu bổ trợ
    • Thông tin hữu ích
  • Văn hóa
    • Tin văn hóa
    • Di sản. Lễ hội
    • Bảo tồn, Bảo tàng, Nghệ thuật
    • Nhân vật Sự kiện
    • Sống đẹp