Seatỉmes – (ĐNA). Từ ngày 31/3 đến 2/4/2026 (tức 13–15/2 năm Bính Ngọ), Lễ hội Nghinh Ông diễn ra tại xã Sông Đốc, không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng đặc trưng của ngư dân vùng biển mà còn là điểm hẹn văn hóa cộng đồng giàu bản sắc. Đây là không gian gìn giữ và trao truyền ký ức biển, bồi đắp nếp sống nghĩa tình, đưa di sản thấm sâu vào trường học và đời sống thường nhật. Qua đó, lễ hội trăm năm tiếp tục phát huy giá trị, phản ánh rõ nét hiệu quả của chủ trương phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW trong thực tiễn cơ sở.

Sông Đốc vào mùa Nghinh Ông
Lễ hội không mở ra bằng tiếng trống khai cuộc, mà bắt đầu từ những chuyển động rất sớm của một vùng cửa biển. Trên các trục đường dẫn vào trung tâm xã Sông Đốc, pano, băng rôn, cờ phướn lần lượt được dựng lên, tạo nên diện mạo rực rỡ, báo hiệu mùa lễ hội đã về. Trong khuôn viên Vạn Lăng Ông Nam Hải, công tác chuẩn bị cho các nghi thức chính được triển khai đồng bộ, từ trang hoàng chánh điện đến sắp xếp không gian hành lễ. Còn tại Cảng cá Sông Đốc, nhịp lao động thường nhật vẫn tiếp diễn với tàu thuyền ra vào tấp nập, song song đó là sự sẵn sàng cho đoàn diễu hành xuống tàu thực hiện nghi thức thỉnh Ông, một nghi lễ thiêng liêng đã gắn bó lâu đời với cư dân vùng biển.
Theo kế hoạch tổ chức năm 2026, Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc không chỉ hướng đến mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng dân gian của ngư dân ven biển, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tâm linh của người dân, mà còn góp phần quảng bá hình ảnh địa phương trong khuôn khổ chương trình “Cà Mau – Điểm đến 2026”. Sâu xa hơn, lễ hội còn là nơi lưu giữ và tái hiện một phần ký ức cộng đồng của cư dân miền sóng nước, nơi con người gắn bó mật thiết với biển cả và gửi gắm niềm tin vào sự che chở của “Ông” (cá voi), vị thần hộ mệnh trong tâm thức ngư dân.
Phần lễ vẫn giữ vai trò trục chính, là “linh hồn” của lễ hội biển. Nghi thức trọng tâm là rước Long Đình cùng Ban Trị sự từ Lăng Ông Nam Hải ra Cảng cá Sông Đốc, sau đó xuống 7 tàu ra khơi làm lễ thỉnh Ông, rồi rước về an vị tại chánh điện. Đi cùng là các nghi thức truyền thống như cúng tiền giảng, chánh tế và lễ bế mạc. Điều đáng chú ý là toàn bộ không gian nghi lễ không tách rời đời sống thường nhật, mà diễn ra ngay trong những địa điểm gắn bó mật thiết với sinh kế của người dân, tạo nên vẻ chân thực, mộc mạc và giàu tính cộng đồng.
Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2021. Theo ngành văn hóa, lễ hội không chỉ đáp ứng nhu cầu tinh thần của ngư dân ven biển Cà Mau mà còn góp phần gắn kết cộng đồng, bồi đắp tinh thần đoàn kết, tương trợ trong lao động và đời sống. Thực tế mùa lễ hội năm 2026 cho thấy giá trị ấy hiện diện rõ nét, khi nơi đây trở thành điểm gặp gỡ của nhiều lực lượng: người dân địa phương, các cơ quan chức năng, học sinh, cùng sự hội tụ của nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc.
Phần hội góp phần làm nổi bật sức sống của lễ hội với chuỗi hoạt động phong phú như thi đấu thể thao quần chúng, biểu diễn văn nghệ, giao lưu đờn ca tài tử, dân vũ, khiêu vũ, trưng bày tư liệu và hiện vật di sản. Đặc biệt, hoạt động xe thư viện lưu động phục vụ người dân và học sinh đã mở rộng không gian tiếp cận tri thức, đưa văn hóa đọc đến gần hơn với cộng đồng.
Đặt trong tổng thể Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc, chuỗi hoạt động ấy cho thấy một không gian văn hóa nhiều lớp, nơi các thế hệ cùng hiện diện và tương tác. Người cao tuổi tham dự nghi lễ với sự thành kính; thanh niên, người trẻ tham gia thể thao, văn nghệ; học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa, tham quan trưng bày và tiếp cận sách báo. Nhờ đó, lễ hội không chỉ dừng lại ở khía cạnh tín ngưỡng tâm linh mà còn mở rộng sang các giá trị giáo dục, giải trí, tri thức và giao lưu xã hội.
Một điểm đáng chú ý trong mùa lễ hội năm nay là sự tham gia tích cực của học sinh. Theo kế hoạch, Trường Trung học phổ thông Sông Đốc tổ chức cho học sinh cùng giáo viên tham gia diễu hành, đồng thời phối hợp với Bảo tàng tỉnh tổ chức các hoạt động ngoại khóa tại Vạn Lăng Ông Nam Hải. Thư viện tỉnh cũng đưa xe thư viện lưu động đến phục vụ học sinh và người dân trên địa bàn. Những hoạt động này cho thấy di sản không còn nằm trong không gian trưng bày tĩnh, mà đang “sống” trong trải nghiệm trực tiếp, từng bước đi vào trường học và đời sống của thế hệ trẻ.
Phía sau không khí lễ hội là sự chuẩn bị chặt chẽ của các lực lượng chức năng về an ninh trật tự, điều tiết giao thông, y tế, cứu hộ cứu nạn và bảo đảm điện lực, góp phần giúp lễ hội diễn ra an toàn, nề nếp và đúng quy định.
Từ toàn bộ chuỗi hoạt động ấy, giá trị cốt lõi của Lễ hội Nghinh Ông hiện ra rõ nét: đó là khả năng gìn giữ ký ức biển bằng chính đời sống cộng đồng. Lễ hội không chỉ nhắc nhớ về một tín ngưỡng dân gian, mà còn lưu giữ nếp ứng xử, tình làng nghĩa xóm, sự tương trợ và niềm tin của cư dân vùng biển. Những giá trị ấy không được thể hiện bằng khẩu hiệu, mà hiện lên tự nhiên qua cách người dân tham gia lễ hội, qua sự hiện diện của nhiều thế hệ trong cùng một không gian văn hóa, và qua chính dòng chảy đời sống, nơi lễ hội không tách rời, mà hòa vào, tồn tại bền bỉ trong lòng cộng đồng.

Khi di sản thấm vào nhịp sống biển
Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định phát triển văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng và nguồn lực nội sinh quan trọng, đồng thời là động lực cho phát triển bền vững. Tinh thần xuyên suốt của nghị quyết không dừng ở định hướng, mà nhấn mạnh việc đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; phát huy đặc trưng văn hóa biển; lấy cộng đồng dân cư làm hạt nhân, người dân làm chủ thể; mở rộng cơ hội để học sinh, sinh viên tiếp cận nghệ thuật, giáo dục di sản; và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa ở cơ sở.
Đặt trong những yêu cầu đó, Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc cho thấy một cách hiện thực hóa khá rõ nét ngay từ cấp cơ sở. Ở đây, văn hóa không hiện diện qua khẩu hiệu, mà được thể hiện bằng một không gian sống động, nơi tín ngưỡng, nghệ thuật, thể thao, hoạt động trưng bày di sản, văn hóa đọc và nếp sống cộng đồng cùng tồn tại, đan xen và bổ trợ lẫn nhau. Chính sự kết nối đa chiều này đã giúp lễ hội vượt ra khỏi khuôn khổ của một sinh hoạt tâm linh đơn thuần, trở thành một môi trường văn hóa mở, nơi người dân có thể trực tiếp tham gia, trải nghiệm và thụ hưởng.
Một trong những điểm nổi bật là sự gắn kết giữa di sản và giáo dục. Nghị quyết 80-NQ/TW nhấn mạnh việc tạo điều kiện để học sinh, sinh viên được tiếp cận và tham gia các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản như một phần của quá trình hình thành nhân cách và ý thức văn hóa. Tại Sông Đốc, tinh thần đó không dừng ở chủ trương mà được cụ thể hóa bằng những hoạt động thiết thực: học sinh tham gia diễu hành, dự các buổi ngoại khóa ngay trong không gian di sản, tiếp cận trực tiếp với tư liệu, hiện vật và sách báo. Ý nghĩa của những trải nghiệm này không chỉ nằm ở việc “biết” về di sản, mà quan trọng hơn là tạo ra sự gắn kết cảm xúc, giúp thế hệ trẻ không xem di sản là điều xa lạ. Từ đó, di sản từng bước đi từ không gian thờ tự vào nhận thức, từ ký ức cộng đồng trở thành sự tiếp nối tự nhiên của thế hệ sau.
Bên cạnh đó, nghị quyết cũng đề cao vai trò của cộng đồng dân cư như trung tâm của quá trình phát triển văn hóa. Thực tế tại Sông Đốc cho thấy cộng đồng không đứng ngoài lễ hội, mà chính là chủ thể tạo nên và duy trì lễ hội. Người dân tham gia các nghi thức truyền thống với sự thành kính; tham gia các hoạt động thể thao quần chúng; các câu lạc bộ văn nghệ địa phương góp mặt trong chương trình biểu diễn; trường học chủ động phối hợp tổ chức hoạt động; các ấp cùng chung tay giữ gìn vệ sinh môi trường; lực lượng chức năng đảm bảo an ninh, trật tự và an toàn. Khi nhiều thành phần cùng tham gia như vậy, lễ hội không còn là công việc riêng của ngành văn hóa hay Ban Trị sự, mà trở thành công việc chung của cả cộng đồng. Chính cảm giác cùng góp sức, cùng gìn giữ ấy tạo nên sức sống bền bỉ cho di sản.
Giá trị của lễ hội vì thế không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn một tập quán tín ngưỡng dân gian. Quan trọng hơn, lễ hội góp phần hình thành và củng cố nếp sống cộng đồng. Một lễ hội được tổ chức đúng quy định, an toàn, tiết kiệm; đông người tham gia nhưng vẫn giữ được trật tự, nền nếp; vừa đảm bảo tính trang nghiêm của phần lễ, vừa duy trì sự sinh động của phần hội, đó chính là một hình thức thực hành văn hóa cụ thể. Từ việc điều tiết giao thông, đảm bảo an toàn cho các tàu tham gia nghi thức trên biển, giữ gìn vệ sinh môi trường, đến việc tổ chức các nghi thức đúng phong tục, tất cả đều góp phần định hình chuẩn mực ứng xử trong cộng đồng dân cư.
Một điểm đáng chú ý khác là cách lễ hội gắn kết giữa bảo tồn di sản và phát triển bền vững. Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát huy giá trị di sản trong mối quan hệ hài hòa với phát triển môi trường, kinh tế, xã hội và sinh kế cộng đồng, đồng thời thúc đẩy du lịch văn hóa và kinh tế di sản. Tại Sông Đốc, bên cạnh các nghi thức truyền thống, lễ hội còn mở ra cơ hội quảng bá hình ảnh địa phương và các sản vật đặc trưng của vùng biển, đặc biệt là thủy, hải sản. Tuy nhiên, hướng phát triển này không làm phai nhạt giá trị cốt lõi của lễ hội. Ngược lại, phần lễ vẫn giữ vai trò trung tâm, còn phần hội đóng vai trò mở rộng không gian trải nghiệm, làm phong phú thêm đời sống văn hóa.
Từ thực tế đó có thể thấy, Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc mang trong mình nhiều lớp giá trị đan xen: vừa lưu giữ ký ức và tín ngưỡng của cư dân vùng biển; vừa tạo dựng một môi trường văn hóa cộng đồng, nơi con người được kết nối, tham gia và thụ hưởng; đồng thời chuyển tải những định hướng lớn của một nghị quyết về văn hóa thành những hành động cụ thể, gần gũi ở cấp cơ sở. Khi các lớp giá trị này cùng hiện diện, lễ hội không còn là một sự kiện mang tính thời điểm, mà trở thành một quá trình bồi đắp con người và cộng đồng từ bên trong.
Trong không gian nơi cửa biển, khi âm thanh nhộn nhịp của bến cá dần lắng xuống, ánh đèn khu vực lễ hội bắt đầu sáng lên, có thể cảm nhận rõ một điều: ở Sông Đốc, lễ hội không phủ lên đời sống một lớp màu khác biệt, mà làm cho chính đời sống ấy hiện ra rõ nét hơn. Từ nghi thức trên biển đến những tiết mục văn nghệ trên sân khấu, từ bước chân của học sinh trong đoàn diễu hành đến dòng người tìm về Vạn Lăng Ông Nam Hải, tất cả hòa quyện tạo nên diện mạo của một di sản đang sống. Lễ hội Nghinh Ông vì thế không chỉ góp phần gìn giữ một mỹ tục vùng biển, mà còn bồi đắp nếp sống cộng đồng, nuôi dưỡng ý thức văn hóa, trách nhiệm công dân và trao truyền giá trị di sản cho các thế hệ tiếp nối.
Trọng Nguyễn




