Mức án nào cho người mua bán trẻ em ở chùa Bồ Đề?

Tin liên quan

Những ngày qua, dư luận không khỏi xôn xao và bức xúc trước thông tin mua bán trẻ em tại chùa Bồ Đề. Được biết, vào chiều ngày 4/8, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (PC45), Công an Hà Nội, xác nhận đã bắt khẩn cấp Nguyễn Thị Thanh Trang và Phạm Thị Nguyệt về hành vi “mua bán trẻ em”.
Trước thông tin này, PV Seatimes đã có cuộc trao đổi với luật sư Đặng Văn Cường, Văn phòng luật sư Chính Pháp.

Hai nghi can trong vụ mua bán trẻ em tại chùa Bồ Đề.

PV: Thưa luật sư, trước thông tin vụ việc bắt và khởi tố 2 nghi can có liên quan tới việc mua bán trẻ em tại chùa Bồ Đề, ông có nhận định gì về hành vi mua bán trẻ em của 2 nghi can trên?
Theo dõi các thông tin dư luận trong vài tháng trở lại đây thì thấy có thông tin về việc mua bán trẻ em tại Chùa Bồ Đề, thuộc quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, theo thông tin mới nhất thì Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (PC45), Công an Hà Nội, xác nhận đã bắt khẩn cấp Nguyễn Thị Thanh Trang và Phạm Thị Nguyệt về hành vi “mua bán trẻ em”. Nguyễn Thị Thanh Trang (36 tuổi) là người quản lý khu nuôi trẻ tại chùa Bồ Đề (phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội) và Phạm Thị Nguyệt (35 tuổi) quê quán tại xã Khánh Hòa, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Đồng thời, cơ quan điều tra cũng triệu tập 3 nghi phạm khác để điều tra.
Như vậy, đến nay đã có căn cứ để xác định có việc mua bán trẻ em tại Chùa Bồ Đề và đã xác định được người thực hiện hành vi mua bán trẻ em thì cơ quan điều tra mới khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối tượng gây án.
Sự việc mới ở giai đoạn đầu giai đoạn điều tra, trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan công an cũng có thể thay đổi, hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và cũng có thể khởi tố bổ sung với các đồng phạm khác. Sự việc sẽ được thực hiện trên cơ sở các quy định về tố tụng hình sự.
PV: Xin luật sư cho biết, với hành vi buôn bán trẻ sơ sinh trên, nếu phát hiện mới buôn bán 1 trẻ thì 2 nghi can này sẽ bị xử lý như thế nào. Trường hợp trong quá trình điều tra mà phát hiện có nhiều trẻ đã bị bán thì mức xử phạt của 2 người này cùng những người có liên quan khác như thế nào?
Hành vi như đã nêu ở trên có thể xử lý về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em theo quy định tại Điều 120 Bộ luật hình sự.  Theo đó mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm. Còn phạm tội đối với nhiều trẻ em thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 6, Thông tư số 01/2013/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 23/7/2013 thì hành vi dùng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi trái pháp luật (để chuyển giao trẻ em cho người đó nhằm nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác thì người môi giới và người nhận nuôi con nuôi) cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự.
- Trường hợp người môi giới nuôi con nuôi biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là sau khi nhận đứa trẻ sẽ bán đứa trẻ đó cho người khác thì người môi giới và người nhận nuôi con nuôi phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự.
- Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái phép (không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho, nhận nuôi con nuôi) hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái phép mà biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự.
- Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái phép (không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho, nhận nuôi con nuôi) hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái phép, nhưng không biết người nhận nuôi con nuôi nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc có mục đích trái pháp luật khác thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em. Tùy từng trường hợp cụ thể, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281), tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác để trục lợi (Điều 283) hoặc tội danh khác theo quy định của Bộ luật hình sự.
-  Trường hợp một người biết người khác thực sự có nhu cầu nuôi con nuôi (do hiếm muộn hoặc có lòng yêu trẻ) đã giới thiệu người đó với người muốn cho con của chính họ đi làm con nuôi vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có điều kiện nuôi dưỡng đứa trẻ, mong muốn đứa trẻ được nuôi dưỡng tốt hơn và đã nhận một khoản tiền, đồng thời người môi giới cũng được nhận một khoản tiền cho việc môi giới, thì người môi giới, người cho con mình đi làm con nuôi và người nhận con nuôi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự.
PV: Theo luật sư, để hạn chế tình trạng buôn bán trẻ em này cần có biện pháp gì? Đặc biệt những đứa trẻ trong trường hợp này đều không có gia đình và bị bỏ rơi?
Để quản lý vấn đề này cần thực hiện tốt vai trò của công tác quản lý hộ khẩu, nhân khẩu trên địa bàn và thủ tục nhận con nuôi. Phải có sự thống kê, ra soát, báo cáo… cơ quan chức năng, đồng thời, cũng cần tăng cường công tác kiểm tra các hoạt động từ thiện, nhận nuôi dạy trẻ mồ côi, bỏ rơi… của một số trung tâm, các ngôi chùa... Ngoài ra, các cơ quan chức năng cũng cần phối hợp chặt chẽ với Hội phật giáo để đề thực hiện tốt hơn các hoạt động mang tính xã hội, nhân đạo, tránh việc lợi dụng danh nghĩa nhân đạo để trục lợi cá nhân, thực hiện các hành vi trái pháp luật.
Vâng, xin cảm ơn luật sư!!
Điều 120. Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em
1. Người nào mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Có tổ chức
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Vì động cơ đê hèn;
d) Đối với nhiều trẻ em;
đ) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
e) Để đưa ra nước ngoài;
g) Để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo;
h) Để sử dụng vào mục đích mại dâm;
i) Tái phạm nguy hiểm;
k) Gây hậu quả nghiêm trọng
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc phạt quản chế từ một năm đến năm năm.
Từ khóa:

Mời quý độc giả gửi ý kiến bình luận, phản hồi về vấn đề này.
Bài viết đóng góp, cộng tác cho Seatimes vui lòng gửi về địa chỉ
Email: toasoanseatime@gmail.com | Hotline: 0901 777 207

Liên kết hữu ích