Dân nợ doanh nghiệp hay doanh nghiệp nợ dân?

Từ năm 2008 đến 2009 tình hình thu mua cà phê tại Nông trường cà phê A Lưới  bắt đầu chững lại. Hằng năm vào vụ thu hoạch cà phê người dân các xã Nhâm, Hồng Thượng, Hồng  Bắc, Hông Thái thuộc huyện A Lưới (tỉnh Thừa Thiên - Huế) lao đao vì nhập cà phê không ai nhận, thậm chí nhận nhưng với giá quá thấp không đủ chi phí cho tiền công chăm sóc, đầu tư phân bón thâm canh. Đó là những năm Nông trường cà phê A Lưới có dấu hiệu làm ăn kém hiệu quả nguy cơ giải thể. Thời gian này kéo dài hơn 700 hộ dân trồng cà phê hết sức hoang mang: duy trì cây cà phê hay phải mạnh dạn phá bỏ trồng loại cây khác để giải quyết vấn đề đời sống đang quá khó khăn.

Chịu đựng khốn khó cũng chừng gần hai năm khi vườn cà phê chín rục không biết bán cho ai, tại các xã nói trên người dân bắt đầu phá chặt cây cà phê vốn gắn bó với người dân gần 4năm kể từ ngày người dân góp đất cùng Công ty Vinacafe Quảng Trị, mở rộng đầu tư gần 500ha ở vùng núi cao này.

Công ty Vinacafe Quảng Trị bỏ của chạy lấy người và giao cho Nông trường cà phê A Lưới trực tiếp thu mua cà phê của dân khi vào vụ. Nhưng rồi nông trường này cũng giải thể, người trồng cà phê thuộc 4 xã ở A Lưới lâm vào cảnh khốn đốn với chuyện trồng và chăm sóc cà phê. Tiếp tục chăm sóc cây cà phê thì không biết bán cho ai lại thêm nợ nần vì đầu tư không mang lại hiệu quả. Không có cách nào khác là phải trồng cây khác như sắn, lạc… để giải quyết cuộc sống; nhiều hộ dân  trồng rừng trên diện tích cà phê. Trồng thì trồng vậy nhưng người dân không yên tâm khi chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sản xuất trên diện tích đất chưa chính chủ nên cây trồng cũng lác đát. Vốn liếng thiếu nên rừng trồng xem chừng cũng tạm bợ. Thực trạng này kéo dài nhiều năm dân kêu không ai giải quyết cuối cùng với gần 350ha cà phê đến năm 2011 đã bị chặt phá gần hết .

Hướng chuyển đổi cây trồng là cây cà phê nhằm ổn định cuộc sống của người dân vùng cao A Lưới theo thời gian đi vào quên lãng. Đùng một cái vào năm 2012, khi biết tin Tổng công ty Cà phê Việt Nam đã chính thức yêu cầu Công ty TNHH một thành viên Vinacafe Quảng Trị ngừng đầu tư đối với diện tích cây cà phê tại nông trường café A Lưới. Và năm 2015, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị có quyết định tuyên bố phá sản Công ty TNHH một thành viên Vinacafe Quảng Trị thì chuyện thi hành án chủ động bắt đầu diễn ra. Người dân và ngay cả chính quyền huyện A Lưới hết sức ngỡ ngàng trước những khoản nợ mà Chi cục Thi hành án dân sự huyện A Lưới – Đơn vị được uỷ thác thi hành Quyết định tuyên bố phá sản Công ty TNHH một thành viên Vinacafe Quảng Trị. Theo Quyết định chủ động thi hành án của Cục thi hành án dân sự Quảng Trị thì các khoả thi hành được phân chia: Giá trị vườn cà phê còn lại tại Nông trường cà phê huyện A Lưới là 35,1 tỷ đồng, các khoản nợ của người mắc nợ công ty là 16.402.458.310 đồng…

Giấy CNQSDĐ thế chấp tại Ngân hàng NN&PTNN huyện Hướng Hoá-Quảng Trị.

Quyết định này ban hành ngày 15-10-2015. Đến ngày 08-n-2016, Cục Thi hành án lại có Quyết định thu hồi một phần Quyết định thi hành án ngày 15-10-2015 và quyết định chỉ thu hồi tài sản còn lại của doanh nghiệp là khoản nợ của những người mắc nợ của công tyTNHH Vinacafe Quảng Trị với tổng số tiền 2.065.614.321 đồng, tương ứng với 721 người mắc nợ có địa chỉ tại các xã Nhâm, Hồng Thái, Hồng Thượng, Hồng Thái thuộc huyện A Lưới.

Đọc Quyết định thi hành án chủ động và thực tế khi triển khai thi hành án thấy vấn đề không thể tin được ai đang nợ ai. Theo ông Trần Ngọc Điểm thì trong quá trình Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị mở thủ tục phá sản, Công ty TNHH một thành viên Vinacafe Quảng Trị đã không thực hiện việc thông báo quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp theo quy định của Luật Phá sản cho người trồng café để người dân còn nợ tiền biết mà thực hiện việc trả nợ. Một vấn đề đáng quan tâm là đông đảo người dân khẳng định rằng Nông trường Cà phê A Lưới đang nợ dân, họ sắn sàng đối thoại để chứng minh những hoá đơn giao nộp cà phê cho nông trường nhưng chưa được thanh toán tiền sản phẩm, tiền công thu hái, chăm sóc theo hợp đồng đã ký giữ người dân với nông trường – anh Hồ Bưng và anh Hồ Thanh Nhàn ở xã Hồng Thái chắc nịch như vậy khi cầm trong tay một xấp hoá đơn. Ông Phạm Minh Cái, Chủ tịch UBND xã Nhâm thì cho rằng đây là việc làm thiếu trách nhiệm của các ngành các cấp, nợ là phải có chứng từ chứng minh chứ không phải cứ gửi danh sách và giấy báo về xã. Tôi khẳng định là không có cơ sở, nhiều gia đình nói rằng đã thanh toán sòng phẳng khi nhập sản phẩm. Một cuộc họp tại xã Nhâm nhiều người dân phát biểu, việc người dân góp đất, bỏ công chăm sóc, thu hái; công ty đầu tư phân bón, giống là phù hợp. Nhưng từ năm 2010 đến nay công ty không tiếp tục đầu tư cũng như không khuyến cáo người dân về chăm sóc cây cà phê dẫn đến vườn cà phê xuống cấp sản lượng thấp nay thông báo nợ là không có cơ sở. Ông Hồ Văn ở xã Nhâm lý giải từ 2010 nông trường bỏ hoang không đầu tư, bà con không có công ăn việc làm nhưng đến vụ vẫn thu hoạch nhập cho nông trường. Khi nhập nông trường nông trường chỉ làm phiếu mà chưa thanh toán đủ tiền. Ông Văn nêu cụ thể nhà anh nhập 9 tấn mới thanh toán chưa tới 3 tấn. Lãnh đạo các xã nói trên khẳng định đất này là đất của dân canh bệ khai hoang trồng hoa màu mà có, không phải của nông trường và công ty mang máy móc khai phá. Thế nhưng năm 2005, chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế đã cấp giấy CNQSDĐ cho Nông trường Cà phê A Lưới với diện tích 909ha. Nông trường đã mang giấy CNQSDĐ thế chấp vay 35 tỷ đồng tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hướng Hoá để “kinh doanh” đầu tư cho cây cà phê hay kinh doanh gì để dẫn đến hậu quả phải phá sản khiến người dân khốn đốn theo?. Bây giờ nông trường đã giải thể nhưng sổ đỏ còn treo đó người dân lại càng khó có thể xin cấp giấy CNQSDĐ để tính chuyện làm ăn. Đó là chưa nói đến việc cấp GCNQSDĐ chồng lấn lên đất của nhà dân và các công trình khác.

Rừng trồng tạm bợ do chưa được cấp đất.

Nói về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lãnh đạo huyện A Lưới cũng hết sức ngỡ ngàng vì không hiểu đo đạc kiểu gì mà diện tích đất thổ cư và dất của các công trình dân sinh cũng bị gộp vào diện tích được thể hiện trên giấy chứng nhận cho nông trường. Hiện nay được biết các ngàng chức năng của tỉnh đang tiến hành đo đạc lại; xử lý việc cho nông trường thuê đất sau khi phá sản; xử lý các thủ tục đất đai, giao đất và cấp giấy CNQSDĐ cho người dân nhằm góp phần ổn định kinh tế-xã hội, an ninh ở huyện vùng cao A Lưới.

Rõ ràng sự việc đang nóng lên tại các xã thuộc huyện A Lưới về chuyện dân nợ doanh nghiệp hay doanh nghiệp nợ dân là điều rắc rối khó gỡ của các ngành các cấp nếu không giám nhìn thẳng vào sự thật. Bởi vì dân thì đang chưa có quyền sử dụng đất một cách danh chính ngôn thuận, diện tích cà phê hiện không còn nữa, nông trường thì đã giải tán từ nhiều năm, công ty thì đã phá sản…Những thực tế ấy diễn ra đã lâu nhưng bây giờ dân mới biết, vậy mà trên các diễn đàn chúng ta hay nêu cao cụm từ “Dân biết-Dân bàn- Dân làm-Dân kiểm tra”. Thế nên sự việc của người dân ở các xã trên địa bàn huyện A Lưới là khoản nợ của chính quyền các cấp tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chiến Hữu

Theo TCĐNA

Mời quý độc giả gửi ý kiến bình luận, phản hồi về vấn đề này.
Bài viết đóng góp, cộng tác cho Seatimes vui lòng gửi về địa chỉ
Email: toasoanseatime@gmail.com | Hotline: 0901 777 207

Liên kết hữu ích